Công dân việt nam có được mang hai quốc tịch không?

10:08 27/03/2026

Tám năm trước, Tôi cùng chồng sang Pháp định cư khi con trai mới 6 tháng tuổi. Do nghĩ sẽ ở lại định cư tại Pháp nên tôi đã làm thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam cho cả hai mẹ con. Tuy nhiên, sau biến động kinh doanh cuộc sống tại Pháp gặp nhiều khó khăn, vợ chồng tôi quyết định đưa con về Việt Nam lập nghiệp làm sao để con được học trường công, hưởng quyền lợi như trẻ em trong nước nhưng vẫn giữ được quốc tịch Pháp. Câu hỏi 1: Tôi Nghe nói Việt Nam chỉ cho phép một quốc tịch, điều này có đúng không? Trả lời: Theo Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Về nguyên tắc, Nhà nước Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”. Tuy nhiên, pháp luật vẫn có những ngoại lệ cho phép công dân mang hai quốc tịch trong các trường hợp sau đây: “Trẻ em có cha mẹ thuộc hai quốc tịch khác nhau. (Điều 16) Người xin nhập hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài. (Khoản 3, Điều 19 và Khoản 5, Điều 23) Trẻ em thay đổi quốc tịch theo cha mẹ nhưng có thỏa thuận giữ quốc tịch cũ.” (Điều 35) Câu hỏi 2: "Nếu tôi xin trở lại quốc tịch Việt Nam, con trai tôi có được nhập tịch theo tôi không?"Trả lời: Chắc chắn được. Theo khoản 1 Điều 35 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “1. Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ.” Câu hỏi 3: "Làm sao để con trai tôi vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa giữ được quốc tịch Pháp?" Trả lời: Đây là điểm mấu chốt để đạt được "song tịch" hợp pháp cho cháu bé. Căn cứ Khoản 2, Điều 35 Luật Quốc tịch Việt Nam: “Khi chị Phương trở lại quốc tịch Việt Nam, cháu bé sẽ có quốc tịch Việt Nam theo mẹ. Để cháu giữ được quốc tịch Pháp, vợ chồng chị Phương cần lập một Văn bản thỏa thuận đồng ý cho con có quốc tịch Việt Nam nhưng đồng thời xác nhận nguyện vọng giữ quốc tịch Pháp. Nếu không có văn bản thỏa thuận này, về mặt nguyên tắc pháp lý, cháu sẽ mặc nhiên chỉ mang quốc tịch Việt Nam theo mẹ”. Câu hỏi 4: "Riêng đối với tôi, khi trở lại quốc tịch Việt Nam có bắt buộc phải bỏ quốc tịch Pháp không?" Trả lời: Theo Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam về nguyên tắc phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài. Để được giữ quốc tịch Pháp khi trở lại quốc tịch Việt Nam, ông/bà cần đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: Có cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng hoặc con đẻ là công dân Việt Nam. Việc giữ quốc tịch Pháp phải phù hợp với pháp luật của Pháp (hiện tại Pháp cho phép đa quốc tịch). Việc giữ hai quốc tịch không gây phương hại đến an ninh, lợi ích quốc gia của Việt Nam. Phải đang cư trú tại Việt Nam (theo quy định tại Nghị định 16/2020/NĐ-CP).” Châu Vân, HCTP

Không đăng ký khai sinh cho con – cha mẹ có thể bị xử lý hình sự không?
Tại một vùng quê, một bé gái 10 tuổi được phát hiện chưa từng có giấy khai sinh. Bé không được đi học, không có bảo hiểm y tế, không được tiêm chủng, cũng không có bất kỳ loại giấy tờ tùy thân nào. Cả cha và mẹ của bé đều đã bỏ đi, không ai chăm sóc. Khi chính quyền địa phương vào cuộc, người ta mới giật mình nhận ra: đứa trẻ ấy đang “không tồn tại” về mặt pháp lý. Câu hỏi: Cha mẹ bỏ con, không khai sinh – Có thể cấu thành tội phạm gì? Trả lời: Theo Luật Hộ tịch năm 2014, cụ thể tại Điều 15, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh. Việc khai sinh là nghĩa vụ pháp lý đầu tiên của cha mẹ đối với con, bảo đảm cho đứa trẻ được công nhận là công dân, được thụ hưởng các quyền cơ bản như học tập, chăm sóc y tế, bảo trợ xã hội… Theo Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người nào có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà từ chối hoặc trốn tránh, làm cho người được nuôi dưỡng rơi vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự: ► Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, cuộc sống thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Dù không dùng đúng thuật ngữ “khai sinh”, nhưng việc không khai sinh cho con đi kèm với hành vi bỏ rơi, không chăm sóc, không nuôi dưỡng, để trẻ sống lang thang, không học hành, không được chữa bệnh, có thể được xem là biểu hiện của hành vi “trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng”. Tùy mức độ hậu quả, cha mẹ có thể bị xử lý hình sự nếu chứng minh được: Có nghĩa vụ pháp lý phải nuôi dưỡng (tư cách cha mẹ hợp pháp), Có hành vi từ chối, bỏ mặc, trốn tránh, Hành vi đó gây hậu quả nghiêm trọng (trẻ bị xâm hại, bệnh tật không được điều trị, bị tước đoạt quyền học hành…). Trẻ không được khai sinh – hệ lụy nặng nề cả đời Một đứa trẻ không được đăng ký khai sinh không chỉ bị tước đoạt quyền công dân, mà còn bị thiệt thòi về mọi mặt: Không được đi học đúng tuyến, không có hồ sơ học sinh đầy đủ, Không có bảo hiểm y tế, không được khám chữa bệnh miễn phí như các trẻ khác, Không được bảo vệ hợp pháp khi bị xâm hại, không có giấy tờ để tố cáo hành vi vi phạm, Không được nhập hộ khẩu, không có CCCD, dẫn đến không thể tiếp cận dịch vụ xã hội, ngân hàng, việc làm sau này. Về bản chất, đứa trẻ bị “vô hình hóa” trong hệ thống pháp luật và xã hội – một vi phạm nghiêm trọng quyền con người, đi ngược với tinh thần bảo vệ trẻ em trong Luật Trẻ em 2016, Hiến pháp 2013 và các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Khuyến nghị Việc không khai sinh cho con là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu chỉ là vi phạm thủ tục, không có hậu quả, thì bị xử phạt hành chính. Nhưng nếu hành vi không khai sinh đi cùng với việc từ chối nghĩa vụ nuôi dưỡng, làm trẻ em lâm vào tình trạng bị tổn hại nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 185 Bộ luật Hình sự. Cha mẹ, hoặc người giám hộ, cần nhận thức rõ trách nhiệm pháp lý và đạo đức của mình. Nếu trẻ chưa được khai sinh, cần làm thủ tục bổ sung khai sinh ngay, kể cả đã quá hạn. Trong trường hợp cha mẹ bỏ đi hoặc không rõ tung tích, người thân hoặc chính quyền địa phương có thể hỗ trợ đăng ký khai sinh theo trình tự quy định tại Điều 14, 15, 16 Luật Hộ tịch. Châu Vân - Phòng HCTP
11:00 12/01/2026
397
Quy định về xác nhận quốc tịch Việt Nam
Hỏi: Ông Trần Thanh Hùng sinh ra tại Việt Nam, có giấy khai sinh và hộ khẩu thường trú tại Việt Nam. Năm 1990, ông A vượt biên sang Hoa Kỳ sinh sống. Đến nay, ông Trần Thanh Hùng đã định cư lâu dài tại Mỹ và có quốc tịch Hoa Kỳ. Hiện nay, khi về Việt Nam thăm thân nhân và gia đình, ông Trần Thanh Hùng muốn biết mình có còn quốc tịch Việt Nam hay không? Trường hợp ông Trần Thanh Hùng muốn có giấy tờ pháp lý để chứng minh còn quốc tịch Việt Nam thì ông Hùng cần phải làm thủ tục gì? Trả lời: Đối với trường hợp của ông Trần Thanh Hùng, năm 1990 ông vượt biên sang Hoa Kỳ sinh sống và không biết thông tin mình có còn quốc tịch Việt Nam hay không? Thứ nhất, trường hợp vượt biên ra nước ngoài hoặc định cư, nhập quốc tịch Mỹ không đương nhiên làm mất quốc tịch Việt Nam. Nếu ông A chưa làm thủ tục xin thôi quốc tịch Việt Nam và chưa có quyết định của Chủ tịch nước cho thôi/tước quốc tịch Việt Nam, thì về mặt pháp lý, ông A vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Bởi vì, theo khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định người có quốc tịch Việt Nam như sau: “2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đề nghị với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” Ngoài ra, Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định về căn cứ mất quốc tịch Việt Nam như sau: “1. Được thôi quốc tịch Việt Nam. 2. Bị tước quốc tịch Việt Nam. 2a. Bị hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam. 4. Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 và Điều 35 của Luật này. 5. Theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” Do đó, trường hợp của Ông Trần Thanh Hùng chỉ mất quốc tịch Việt Nam khi: + Có quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam của Chủ tịch nước; hoặc + Bị tước quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật. Thứ hai, nếu muốn có giấy tờ pháp lý để chứng minh còn quốc tịch Việt Nam thì ông Trần Thanh Hùng cần phải làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam theo quy định. Bởi vì, theo khoản 2 đã nêu trên và khoản 3 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025 quy định: “3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” và Điều 30 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 đã quy định về Trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Một số lưu ý: - Trên thực tế, nhiều người Việt Nam ra nước ngoài từ lâu thường nhầm tưởng rằng mình đã mất quốc tịch Việt Nam, trong khi chưa từng làm thủ tục pháp lý về quốc tịch hoặc chưa có quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho thoy quốc tịch Việt Nam. - Khi thực hiện các thủ tục như: xác nhận quốc tịch Việt Nam, hồi hương, thừa kế, hộ tịch…, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ hồ sơ pháp lý, không căn cứ vào việc sinh sống ở đâu. Thông điệp Sinh sống ở nước ngoài không đồng nghĩa với mất quốc tịch Việt Nam – quốc tịch chỉ thay đổi khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. + Quốc tịch là quan hệ pháp lý đặc biệt giữa cá nhân và Nhà nước, không tự chấm dứt chỉ vì thay đổi nơi cư trú hay quốc tịch nước ngoài. + Người dân nên chủ động tìm hiểu và thực hiện đúng thủ tục pháp luật để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp lâu dài của mình. Thúy Hà – Phòng HCTP
14:03 07/01/2026
385
Công dân có quyền được biết, quyền đồng ý, quyền truy cập, chỉnh sửa và yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân từ 01/01/2026
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu cá nhân ngày càng được thu thập, xử lý và sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.
16:46 06/01/2026
226
Đối tượng nào được đăng ký mua nhà ở xã hội?
Hỏi: Cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu có được mua nhà ở xã hội không? Vợ chồng ông Nguyễn Quang Đạt đều là giáo viên đã về hưu, đang thường trú tại xã Lương Sơn, tỉnh Lâm Đồng lương hưu của cả hai vợ chồng 20 triệu đồng/tháng, chưa đứng tên nhà đất và chưa được hỗ trợ nhà ở . Ông Đạt đăng ký mua nhà ở xã hội, có xác nhận ở trường về việc ông là viên chức đã nghỉ hưu, có quyết định chế độ hưởng lương hưu hằng tháng, UBND xã cũng xác nhận ông chưa đứng tên nhà đất. Tuy nhiên, Sở Xây dựng không đồng ý nhận hồ sơ với lý do ông là viên chức đã về hưu nên không được hỗ trợ chính sách về nhà ở xã hội, yêu cầu xét theo diện lao động tự do (không hợp đồng lao động). Ông Đạt hỏi, cán bộ, công chức, viên chức về hưu có được mua nhà ở xã hội hay không? Nếu được thì cần làm thủ tục gì, cơ quan nào xác nhận về đối tượng và sẽ thuộc đối tượng nào? Trả lời: Theo quy định của pháp luật về nhà ở hiện hành, cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu vẫn có thể thuộc đối tượng được mua nhà ở xã hội, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Cụ thể, Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023 quy định các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở. Trong đó, khoản 5 Điều 76 xác định “người thu nhập thấp tại khu vực đô thị” là một trong những đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội. Tại khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023, quy định: các đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76, nếu đáp ứng điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập, thì được mua, thuê mua nhà ở xã hội. Nội dung này đã được Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết tại Điều 29 và Điều 30. Về điều kiện nhà ở, khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định: người đăng ký mua nhà ở xã hội và vợ (chồng) của người đó (nếu có) không có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại địa phương nơi có dự án nhà ở xã hội tại thời điểm nộp hồ sơ. Việc xác nhận tình trạng nhà ở do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo quy định. Về điều kiện thu nhập, ngày 10/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 261/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP. Theo đó, đối với trường hợp người đứng đơn đã kết hôn, tổng thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận của người đứng đơn và vợ (chồng) không vượt quá 40 triệu đồng/tháng, tính theo xác nhận của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền. Bên cạnh đó, Thông tư số 32/2025/TT-BXD ngày 10/11/2025 của Bộ Xây dựng đã hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, giấy tờ chứng minh đối tượng và thu nhập. Theo hướng dẫn tại Mẫu số 01a ban hành kèm theo Thông tư này: - Trường hợp người kê khai đang hưởng lương hưu, việc xác nhận thu nhập được thực hiện bởi cơ quan Bảo hiểm xã hội đang chi trả lương hưu hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đăng ký thường trú, tạm trú hoặc nơi ở hiện tại. - Đối với người đã nghỉ hưu, khi kê khai đối tượng được ghi rõ là “người thu nhập thấp tại khu vực đô thị (nghỉ hưu)”. Như vậy, cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu cũng thuộc đối tượng được hưởng chính sách mua nhà ở xã hội nếu đáp ứng các điều kiện quy định. Trường hợp đã nghỉ chế độ (nghỉ hưu), nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập theo quy định của Luật Nhà ở năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì được xem xét mua nhà ở xã hội theo đúng đối tượng và trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Ngọc Thủy - phòng PBGDPL
15:07 06/01/2026
254
Đối tượng được thụ hưởng Trợ giúp pháp lý
Hỏi: Tôi là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ, gia đình khó khăn, cho hỏi trường hợp của tôi đang khởi kiện ra tòa tranh chấp tài sản sau ly hôn. Tôi có được trợ giúp pháp lý miễn phí không? Những đối tượng nào được hưởng quyền trợ giúp pháp lý miễn phí?
11:17 26/12/2025
137
Công dân được tiếp cận những loại thông tin nào?
Hỏi: Xin cho biết, những thông tin nào công dân được tiếp cận? Đề nghị cho biết có những hình thức yêu cầu cung cấp thông tin nào? Người yêu cầu cung câp thông tin phải trả những chi phí nào?
11:11 26/12/2025
97
Hỏi đáp về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp_2
HỎI: Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là hoạt động gì, được thực hiện trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật nào?
11:07 22/12/2025
96
Hỏi đáp về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp_1
HỎI: Trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp có những trách nhiệm gì?
11:05 22/12/2025
84
Không đăng ký kết hôn có đăng ký khai sinh được không?
Chị A chung sống với anh T nhưng không đăng ký kết hôn. Do mâu thuẫn nên T bỏ di và không biết rằng A có thai với T. Sau khi sinh được một bé gái, chị A làm thủ tục khai sinh cho con, chị cho đứa bé mang họ mẹ và trong giấy khai sinh của cháu không có tên người cha. Gần đây, T biết chị A sinh con, qua tìm hiểu biết đó là con mình nên T đã quay lại xin nhận con, hàn gắn mối quan hệ trước đây. Chị A đồng ý cho anh T nhận con gái. Tuy nhiên, chị A băn khoăn không biết chị có thể bổ sung tên T là cha vào giấy khai sinh của đưa bé không? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết việc này? Trả lời: Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng được xác định là cha, mẹ của con. Do đó, nếu anh T muốn nhận con thì anh chị có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền ghi bổ sung tên người cha vào giấy khai sinh của cháu. Tuy nhiên, trước khi ghi bổ sung tên cha vào giấy khai sinh của con, anh T cần phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con. Tại Điều 19 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định về đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau: – Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam, tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú. – Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân và trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã; hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con gồm các giấy tờ sau đây: + Tờ khai nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định; + Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha – con hoặc quan hệ mẹ – con; + Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng. – Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã quyết định. Trường hợp phải xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 12 ngày làm việc. – Nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung vào Sổ hộ tịch, cùng người có yêu cầu ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký cấp cho mỗi bên 01 bản chính trích lục hộ tịch. Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho người con sẽ căn cứ Quyết định này để ghi bổ sung phần khai về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh của người con. Như vậy, để bổ sung tên anh T trong giấy khai sinh cho con, thì trước tiên anh T, chị A phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con. Sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha, con, UBND cấp xã, nơi chị A đã đăng ký khai sinh cho con sẽ ghi bổ sung phần khai về cha trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh của con. Kim Cúc – Phòng HCTP
09:21 22/12/2025
219
Tìm hiểu Luật Đầu tư năm 2020
14:23 18/11/2025
78
Trang
123
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 30
  • Hôm nay: 1134
  • Trong tuần: 9969
  • Trong tháng: 32433
  • Tổng truy cập: 75505