Bộ Tư pháp tăng cường quản lý nhà nước và giám sát hoạt động đấu giá tài sản

8 giờ trước

Ngày 27/3/2026, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 1919/BTP-BTTP gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc tăng cường quản lý nhà nước và giám sát đối với hoạt động đấu giá tài sản. Theo đánh giá của Bộ Tư pháp trong thời gian qua, các địa phương đã quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động đấu giá tài sản, đặc biệt đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản công, đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, Bộ Tư pháp đề nghị các cơ quan, địa phương tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm. Đối với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố với tư cách là cơ quan quản lý người có tài sản đấu giá, cần quán triệt việc lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản phải căn cứ đúng tiêu chí theo quy định của pháp luật; không đặt thêm yêu cầu, điều kiện không có cơ sở pháp lý hoặc không liên quan trực tiếp đến năng lực, kinh nghiệm của tổ chức hành nghề đấu giá. Đồng thời, trong quá trình đánh giá, chấm điểm cần xem xét đầy đủ thông tin về việc chấp hành pháp luật của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản. Khi xây dựng, ban hành phương án đấu giá, không được đặt thêm điều kiện trái quy định pháp luật đối với người tham gia đấu giá; kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp tổ chức hành nghề đấu giá tài sản ban hành quy chế cuộc đấu giá có nội dung không đúng quy định. Đồng thời, Bộ Tư pháp cũng yêu cầu cần tăng cường vai trò, trách nhiệm giám sát của người có tài sản đấu giá trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản. Việc giám sát bao gồm theo dõi việc bán và tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá; cử đại diện tham gia giám sát trực tiếp phiên đấu giá, kể cả trường hợp đấu giá trực tuyến; kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm (nếu có). Trường hợp có căn cứ về hành vi vi phạm, cần yêu cầu dừng, tạm dừng việc đấu giá theo đúng quy định. Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về đấu giá tài sản tại địa phương, Bộ Tư pháp đề nghị tổ chức quán triệt, chỉ đạo các tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện nghiêm quy định về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản, nhất là đối với tài sản là quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản. Trong quá trình tổ chức đấu giá, nếu phát hiện dấu hiệu bất thường như thông đồng, dìm giá, nâng giá thì kịp thời báo cáo để xem xét, xử lý theo quy định. Sở Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động đấu giá tài sản; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm theo thẩm quyền. Việc triển khai nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Tư pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động đấu giá tài sản, phòng ngừa tiêu cực, thất thoát tài sản nhà nước. Văn Phú - Phòng BTTP

Chính phủ ban hành quy định tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực biên giới quốc gia
Ngày 18/03/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Theo đó, Nghị định ban hành tăng mức xử phạt và bổ sung thêm một số hành vi vi phạm hành chính. Cụ thể: Hành vi vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, mốc quốc giới, dấu hiệu đường biên giới (Điều 8): Bổ sung hành vi “không có phương án phòng, chống cạn kiệt nguồn nước, gây ngập úng khi xây dựng các công trình trên sông, suối biên giới” với mức phạt tiền từ 30 – 50 triệu đồng Đối với hành vi vi phạm quy chế khu vực biên giới đất liền (Điều 9): Nâng mức phạt tiền lên từ 500.000 đồng - 1 triệu đồng đối với hành vi tạm trú, lưu trú, đi lại trong khu vực biên giới đất liền không đúng quy định; Không thông báo, khai báo, đăng ký với cơ quan, người có thẩm quyền về việc lưu trú, tạm trú trong khu vực biên giới đất liền hoặc che giấu, giúp đỡ người khác đi lại, lưu trú, tạm trú trái phép trong khu vực biên giới đất liền (Mức phạt cũ từ 300.000 – 500.000 đồng). Đồng thời, tăng mức xử phạt đối với cư dân biên giới có hành vi “cho người khác sử dụng giấy tờ có giá trị xuất, nhập cảnh biên giới để qua lại biên giới” mức phạt 3 triệu – 5 triệu đồng (Mức phạt cũ 1 – 3 triệu đồng). Đồn Biên phòng Nậm Na thuộc tỉnh Lâm Đồng thực hiện nhiệm tuần tra khu vực giáp biên giới với nước bạn Camphuchia Đối với hành vi vi phạm quy chế quản lý cửa khẩu biên giới đất liền (Điều 10): Tăng mức xử phạt đối với hành vi tạm trú, lưu trú, đi lại trong khu vực cửa khẩu biên giới đất liền không đúng quy định lên 500.000 – 1 triệu đồng (Mức phạt cũ chỉ 300.000 đồng – 500.000 đồng). Hành vi vi phạm về quản lý hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới biển (Điều 11): Tăng mức phạt lên từ 500.000 đồng - 1 triệu đồng đối với các hành vi: Tạm trú, lưu trú, đi lại trong khu vực biên giới biển không đúng quy định; Không khai báo với cơ quan, người có thẩm quyền về việc lưu trú, tạm trú trong khu vực biên giới biển hoặc che giấu, giúp đỡ người khác đi lại, tạm trú, lưu trú trái phép trong khu vực biên giới biển (Mức phạt cũ từ 300.000 – 500.000 đồng). Hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới ngoài khu vực cửa khẩu (Điều 15): Bổ sung việc phạt tiền từ 40 – 75 triệu đồng đối với cá nhân, tổ chức đã bị xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều này mà còn tái phạm nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức phạt tiền đến 75 triệu đồng đối với cá nhân, tổ chức bị phạt gấp 2 lần cá nhân. Ngoài phạt tiền, đối tượng vi phạm có thể bị áp dụng thêm các hình thức phạt bổ sung và khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm như: tịch thu, tước giấy phép, trục xuất, khôi phục hiện trạng. Nghị định ban hành có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý nhà nước, không chỉ dừng ở xử lý hành vi vi phạm mà còn góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự xã hội tại khu vực biên giới. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 02 tháng 5 năm 2026 và thay thế Nghị định số 96/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 37/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ./. Minh Hiền (Phòng QLXLVPHC & TDTHPL)
10:04 27/03/2026
79
Những điểm mới nổi bật của nghị định số 65/2026/NĐ-CP về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản
Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động hành nghề của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Tọa đàm lấy ý kiến về dự thảo Nghị định Sau đây là một số nội dung mới nổi bật của Nghị định số 65/2026/NĐ-CP: Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên (Điều 5) Các đối tượng được cấp Chứng chỉ hành nghề Quản tài viên bao gồm: Luật sư; Kiểm toán viên; Người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có ít nhất 05 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực được đào tạo. Điểm mới là yêu cầu bắt buộc phải hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên trước khi được cấp chứng chỉ, nhằm đảm bảo tính chuyên môn đặc thù trong lĩnh vực hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Quy định về hình thức hành nghề của Quản tài viên (Điều 12) Theo đó, Quản tài viên có quyền lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề: Hành nghề với tư cách cá nhân và phải thực hiện đăng ký tại Sở Tư pháp nơi người đó muốn hành nghề. Hành nghề trong doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thông qua việc thành lập hoặc tham gia thành lập hoặc làm việc theo hợp đồng cho doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (được tổ chức dưới loại hình Công ty hợp danh hoặc Doanh nghiệp tư nhân theo quy định). Quy định này tạo điều kiện linh hoạt cho Quản tài viên trong việc lựa chọn mô hình hành nghề phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế. Quy định nghĩa vụ bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên hằng năm (Điều 15) Để cập nhật kiến thức pháp luật và kỹ năng xử lý tài sản, Nghị định quy định Quản tài viên phải tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ hằng năm với thời gian tối thiểu là 01 ngày làm việc (08 giờ/năm). Quản tài viên được tính là hoàn thành nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ Quản tài viên trong năm nếu thuộc một trong các trường hợp: là thành viên Tổ soạn thảo, Hội đồng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản; Tham gia giảng dạy, làm báo cáo viên trong các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản; Tham gia Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ trở lên về phục hồi, phá sản hoặc quản lý, thanh lý tài sản. Việc tuân thủ nghĩa vụ bồi dưỡng không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là điều kiện để duy trì tư cách hành nghề, góp phần xây dựng đội ngũ Quản tài viên chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Quy định về chi phí cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (Điều 21) Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bao gồm thù lao Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và chi phí khác. Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Cơ chế xác định chi phí cho người hành nghề đã được cụ thể hóa tại Nghị định số 65/2026/NĐ-CP, nhằm đảm bảo quyền lợi tương xứng với trách nhiệm. Thù lao của Quản tài viên hiện nay được tính linh hoạt dựa trên thời gian làm việc, mức trọn gói hoặc tỷ lệ phần trăm tổng giá trị tài sản thu hồi được. Đáng chú ý, biểu phí phần trăm được quy định rất chi tiết, dao động từ 10% đối với tài sản dưới 100 triệu đồng đến mức thù lao tính theo bậc cho các tài sản trị giá trên 50 tỷ đồng. Để bảo vệ quyền lợi tối thiểu, pháp luật đảm bảo mức thù lao không thấp hơn 1,5 tháng lương cho mỗi tháng tham gia vụ việc. Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ nguồn lực hoạt động, Thẩm phán sẽ quyết định mức tạm ứng chi phí với mức tối thiểu không thấp hơn 10 tháng lương. Toàn bộ thù lao và các chi phí hợp lý khác như đi lại, lưu trú, thuê nhân sự hỗ trợ sẽ được ưu tiên thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, giúp Quản tài viên an tâm thực hiện nhiệm vụ quản lý và giám sát tài sản một cách khách quan, hiệu quả. Quy định này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người hành nghề tương xứng với khối lượng, tính chất công việc; đồng thời tăng cường tính minh bạch trong quá trình giải quyết phá sản. Việc ban hành Nghị định số 65/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch cho hoạt động hành nghề của Quản tài viên; góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết phá sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan./. Mỹ Oanh - Phòng Bổ trợ tư pháp
08:33 27/03/2026
136
Pháp luật và đời sống biên bản bị bỏ quên
16:02 26/03/2026
62
Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo chấn chỉnh hoạt động khám chữa bệnh
16:50 25/03/2026
75
Các trường hợp được hoãn thi hành án dân sự
Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm “hoãn thi hành án dân sự. Tuy nhiên, có thể hiểu, hoãn thi hành án dân sự là việc chuyển thời điểm đã định thi hành bản án hoặc quyết định của Tòa án sang thời điểm khác muộn hơn. Vậy, những trường hợp nào thì được hoãn thi hành án dân sự? Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây: - Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà người phải thi hành án bị bệnh hiểm nghèo, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của pháp luật. - Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao mà chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án. - Đương sự thỏa thuận bằng văn bản về việc hoãn thi hành án hoặc người được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn thi hành án, trừ trường hợp yêu cầu hoãn thi hành án làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. - Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp tài sản đó đã được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tuyên kê biên, xử lý, công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập khác để thi hành án. - Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc giải quyết yêu cầu hủy kết quả đấu giá, yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. - Nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản thi hành án của cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định hoặc đang thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của pháp luật. - Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. - Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận. - Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật chưa thực hiện được vì tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. - Nhận được thông báo thụ lý của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc giải quyết đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành hoặc hủy phán quyết, quyết định sau: Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành theo quy định của Luật Cạnh tranh; Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại; Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên; Bản án, quyết định khác được thi hành theo quy định của pháp luật). Việc nắm vững các quy định về hoãn thi hành án dân sự không chỉ giúp các đương sự chủ động trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn góp phần đảm bảo tính nhân văn, khách quan trong quá trình thực thi pháp luật. Một hệ thống thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng minh bạch và đúng quy trình chính là nền tảng để bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội và niềm tin của nhân dân vào công lý. Hoàng Oanh
16:36 25/03/2026
106
Góp ý hồ sơ chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong xử lý tài sản công, thời gian qua, nhiều văn kiện của Đảng, Nhà nước đã xác định chủ trương, định hướng về hoàn thiện thể chế, đổi mới, nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung, trong đó có hoạt động đấu giá tài sản, phục vụ hiệu quả cho việc phát triển kinh tế - xã hội; Bộ Tư pháp đã xây dựng hồ sơ chính sách dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) và gửi các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu, tham gia ý kiến nhằm đảm bảo tiến độ xây dựng văn bản. Ngày 20/3/2026, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã tham gia góp ý hồ sơ chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), theo đó những ý kiến, kiến nghị của Sở Tư pháp tập trung vào việc tháo gỡ một số bất cập đang trực tiếp gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước tại địa phương, với các nội dung cụ thể như sau: 1. Kiến nghị làm rõ cơ chế vận hành đối với Sàn đấu giá tài sản công Liên quan đến quy định về “Sàn đấu giá tài sản công do Bộ Công an xây dựng”, Sở Tư pháp đề nghị Bộ Tư pháp cần bổ sung đánh giá cụ thể về sự cần thiết, cơ sở pháp lý và tác động của việc hình thành sàn này. Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế chia sẻ thông tin giữa hệ thống này với Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và xác định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước của địa phương đối với các giao dịch diễn ra trên sàn. 2.Chấm dứt tình trạng mua bảo hiểm nghề nghiệp “tùy nghi” Từ thực tế quản lý, Sở Tư pháp nhận định quy định hiện hành về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên còn chung chung, dẫn đến việc các tổ chức hành nghề thực hiện mang tính đối phó. Nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đấu giá viên, Sở kiến nghị cần bổ sung nguyên tắc về mức bảo hiểm tối thiểu ngay trong Luật hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết về mức phí và số tiền bảo hiểm tối thiểu phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp. 3. Đề xuất áp dụng Quy chế cuộc đấu giá theo mẫu thống nhất Một trong những bất cập lớn hiện nay là tình trạng các tổ chức hành nghề tự ban hành quy chế với những điều kiện làm hạn chế người tham gia, như: thời gian xem tài sản quá ngắn, địa điểm nộp hồ sơ khó tiếp cận, hoặc tự ý đặt ra các tiêu chí đánh giá năng lực trái quy định. Để khắc phục, Sở kiến nghị Bộ Tư pháp ban hành Quy chế cuộc đấu giá theo mẫu bắt buộc áp dụng thống nhất. Các tổ chức hành nghề chỉ được bổ sung các chi tiết đặc thù nhưng không được trái với quy chế khung này. 4. Liên quan đến việc tự ý “đặt thêm” điều kiện tham gia đấu giá Mặc dù Luật Đấu giá tài sản hiện hành đã có quy định về điều kiện tham gia đấu giá, nhưng thực tế vẫn ghi nhận tình trạng tổ chức đấu giá yêu cầu thêm các loại giấy tờ làm sai lệch bản chất hoạt động đấu giá. Sở Tư pháp kiến nghị sửa đổi Luật theo hướng: Tổ chức hành nghề chỉ được yêu cầu các giấy tờ khi pháp luật chuyên ngành (như Luật Đất đai, Luật Địa chất và Khoáng sản...) có quy định cụ thể. Trường hợp pháp luật chuyên ngành không quy định, tổ chức đấu giá tuyệt đối không được tự ý đặt thêm các loại giấy tờ “xác nhận” khác làm khó người dân. 5. Đảm bảo hệ thống pháp luật thông suốt qua điều khoản chuyển tiếp Để tránh khoảng trống pháp lý hoặc xung đột giữa luật cũ và luật sửa đổi, Sở Tư pháp đề nghị xây dựng các điều khoản chuyển tiếp đủ chi tiết. Đặc biệt cần chú trọng xử lý các cuộc đấu giá đang diễn ra hoặc trường hợp đã trúng đấu giá nhưng chưa hoàn tất nghĩa vụ tài chính tại thời điểm luật mới có hiệu lực. Những ý kiến đóng góp của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng xuất phát từ thực tiễn quản lý tại địa phương với mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng hoạt động đấu giá, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng tiêu cực, gây thất thoát tài sản. Với những thay đổi về cơ chế, chính sách trong việc xây dựng dự thảo Luật Đấu giá tài sản, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng kỳ vọng luật mới (sửa đổi) sẽ tháo gỡ được những bất cập hiện nay trong triển khai thực hiện công tác đấu giá tài sản công tại địa phương./. Mỹ Oanh - Phòng Bổ trợ tư pháp
16:21 23/03/2026
99
Những điểm mới trong Nghị định 58/2026/NĐ-CP: cắt giảm tối đa thủ tục cho người dân
Từ ngày 15/3/2026, Nghị định 58/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực thi hành, trong đó sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc thực hiện Luật Căn cước. Với những sửa đổi mang tính đột phá, Nghị định không chỉ cắt giảm các loại giấy tờ rườm rà mà còn tối ưu hóa quyền lợi cho người dân trên môi trường số. Mở rộng trách nhiệm của công an xã Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 58/2026/NĐ-CP là mở rộng trách nhiệm của công an cấp xã trong thu thập, cập nhật và khai thác dữ liệu dân cư, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới khi không còn công an cấp huyện. Theo đó, công an cấp xã nơi công dân cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật thông tin công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ nhiều nguồn như giải quyết thủ tục cư trú, sổ sách quản lý cư trú, hồ sơ tàng thư và từ việc cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước. Nghị định 58/2026/NĐ-CP làm rõ cơ chế điều chỉnh thông tin trong cơ sở dữ liệu khi công dân phát hiện thông tin do mình cung cấp có sai sót hoặc thay đổi. Khi đó, công dân đề nghị công an cấp xã thực hiện điều chỉnh theo trình tự, thủ tục quy định. Nghị định cũng mở rộng phạm vi xác lập số định danh cá nhân ngay từ khâu đăng ký khai sinh, bao gồm cả trường hợp ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy vẫn được tích hợp trong ứng dụng VneID Nghị định 58/2026/NĐ-CP nêu rõ thông tin số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy được mã hóa, tích hợp trong mã QR trên thẻ căn cước, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID). Cơ quan, tổ chức, cá nhân quét mã QR trên thẻ căn cước, khai thác thông tin trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và sử dụng thông tin số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy truy xuất được qua mã QR, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác; không được yêu cầu công dân phải cung cấp xác nhận số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy. Trình tự, thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước Theo quy định được sửa đổi, đối với trường hợp người dưới 6 tuổi đề nghị cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ Căn cước; công dân đề nghị cấp lại do mất thẻ, thẻ hư hỏng không sử dụng được hoặc cấp đổi do thay đổi địa giới hành chính thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VneID. Kết quả tích hợp được thông báo khi trả thẻ Căn cước cho công dân. Công dân hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện thanh toán lệ phí tích hợp, cập nhật, điều chỉnh thông tin trên thẻ và phí dịch vụ chuyển phát theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Việc ban hành Nghị định số 58/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực căn cước, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự. Đinh Trúc - PBGDPL
16:22 21/03/2026
535
Những điểm mới của luật an ninh mạng năm 2025
Trong thời đại chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, không gian mạng trở thành môi trường quan trọng gắn liền với mọi hoạt động của đời sống xã hội các nguy cơ về tội phạm mạng, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân và các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng tinh vi và phức tạp. Để đáp ứng tình hình hiện nay, Quốc hội đã ban hành Luật An ninh mạng năm 2025, thay thế và bổ sung nhiều nội dung so với Luật năm 2018. Luật mới không chỉ quy định cơ chế chính sách nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng mà còn tạo hành lang pháp lý rõ ràng, giúp tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia môi trường mạng an toàn, hiệu quả hơn. Luật An ninh mạng năm 2025 gồm 08 chương, 45 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. So với Luật cũ, Luật mới đã có sự sửa đổi, bổ sung toàn diện trên nhiều phương diện, từ nguyên tắc quản lý, phạm vi điều chỉnh đến trách nhiệm của các chủ thể tham gia không gian mạng. Một trong những điểm mới mang tính nền tảng của Luật là việc hoàn thiện và thống nhất hệ thống pháp luật liên quan đến an ninh mạng. Trước đây, các quy định về an ninh mạng và an toàn thông tin có nhiều văn bản khác nhau dẫn đến sự chồng chéo, thiếu đồng bộ trong quá trình triển khai thực hiện. Đến nay, Luật An ninh mạng năm 2025 đã tiến hành rà soát, kế thừa và tích hợp các quy định có liên quan, từ đó xây dựng một khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, rõ ràng hơn. Cùng tìm hiểu các điểm mới của Luật An ninh mạng năm 2025: Thứ nhất, Luật An ninh mạng năm 2025 đã mở rộng phạm vi bảo vệ, đặc biệt chú trọng đến các nhóm yếu thế trong xã hội như trẻ em, người cao tuổi, người hạn chế về nhận thức. Trong bối cảnh các hành vi lừa đảo, xâm hại trên không gian mạng ngày càng gia tăng và nhắm vào các đối tượng hạn chế về nhận thức, việc bổ sung quy định này có ý nghĩa rất thiết thực. Đồng thời, Luật còn quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức, trang bị kỹ năng sử dụng internet an toàn, cũng như xây dựng môi trường mạng lành mạnh, thân thiện đối với các nhóm đối tượng này. Thứ hai, Luật An ninh mạng năm 2025 đã bổ sung các quy định nhằm kiểm soát những rủi ro phát sinh từ sự phát triển của công nghệ mới. Theo đó, Luật nghiêm cấm các hành vi lợi dụng công nghệ để giả mạo hình ảnh, âm thanh, video nhằm mục đích lừa đảo, xuyên tạc, xâm phạm danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân. So với Luật năm 2018, đây là nội dung hoàn toàn mới, thể hiện sự chủ động của Nhà nước trong việc nhận diện và ứng phó với các nguy cơ an ninh phi truyền thống trên không gian mạng. Thứ ba, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về bảo vệ dữ liệu cá nhân một vấn đề hiện đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng có trách nhiệm xây dựng hệ thống bảo mật thông tin, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ dữ liệu người dùng, phải kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các sự cố rò rỉ, mất an toàn thông tin. So với Luật cũ, trách nhiệm này được quy định rõ ràng hơn, có tính ràng buộc cao hơn, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người sử dụng. Kỳ họp Quốc hội biểu quyết thông qua Luật An ninh mạng. Thứ tư, một nội dung mới nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng quốc gia. Nhà nước khuyến khích và ưu tiên phát triển các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ an ninh mạng trong nước; đầu tư xây dựng hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, hệ thống giám sát và cảnh báo an ninh mạng. Bên cạnh đó, Luật còn chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực an ninh mạng. Đây là giải pháp lâu dài nhằm giảm sự phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền số quốc gia. Thứ năm, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng đã bổ sung các quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh mạng, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm mạn. Việc tăng cường hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Thứ sáu, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng mở rộng và cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm. Không chỉ dừng lại ở các hành vi đơn giản như tấn công hệ thống thông tin, phát tán mã độc, luật mới còn bao quát các hành vi mới phát sinh như phát tán thông tin giả, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân, lợi dụng mạng xã hội để gây mất trật tự xã hội. Việc quy định rõ ràng, cụ thể các hành vi này giúp cơ quan chức năng có cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý nghiêm các vi phạm. Thứ bảy, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng làm rõ hơn trách nhiệm của từng chủ thể tham gia không gian mạng, bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. Mỗi chủ thể đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, chủ động phòng ngừa rủi ro, phối hợp với cơ quan chức năng trong việc bảo đảm an ninh mạng. Đối với cá nhân, việc sử dụng internet cần gắn với ý thức trách nhiệm, không đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật, không thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Việc triển khai đồng bộ và hiệu quả Luật An ninh mạng năm 2025 không chỉ hoàn thiện thể chế, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, mà còn góp phần xây dựng một môi trường mạng an toàn, lành mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số bền vững. Mỗi tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân cần nâng cao nhận thức, chấp hành nghiêm pháp luật, chung tay xây dựng không gian mạng an toàn, văn minh, góp phần bảo vệ phát triển đất nước trong thời đại công nghệ số Võ Luân – Phòng PBGDPL
16:58 19/03/2026
793
Các hành vi gây cháy rừng có thể bị phạt đến 100 triệu đồng
Rừng là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia, có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước và phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều vụ cháy rừng xuất phát từ những hành vi tưởng chừng rất nhỏ như đốt rác, đốt thực bì, đốt nương rẫy bất cẩn, đặc biệt vào mùa khô. Chỉ một chút bất cẩn cũng có thể khiến lửa lan nhanh, gây thiệt hại lớn cho rừng và môi trường. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể để xử lý nghiêm các hành vi này. Theo quy định tại Điều 17 Nghị định 35/2019/NĐ-CP của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 07/2022/NĐ-CP) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, hành vi vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng gây cháy rừng sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ thiệt hại, cụ thể như sau: Trong thực tế, đôi khi vì chủ quan chỉ một hành vi tưởng như đơn giản như đốt rác gần rừng nhưng nếu không kiểm soát tốt, gây cháy rừng thì hậu quả không chỉ là thiệt hại tài nguyên thiên nhiên mà người vi phạm còn phải đối mặt với mức phạt hành chính lên đến 100 triệu đồng. Bên cạnh đó, trong trường hợp hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại theo quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 115 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt tù với mức cao nhất đến 12 năm theo quy định của pháp luật. Để chung tay bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi xanh của chúng ta và tránh những hậu quả đáng tiếc, mỗi người dân chúng ta cần nâng cao ý thức khi sinh sống, sản xuất gần rừng; không đốt rác, đốt nương rẫy bừa bãi trong mùa khô; tuân thủ nghiêm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng. Khi phát hiện nguy cơ cháy rừng hoặc cháy rừng xảy ra, cần kịp thời báo cho chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm hoặc cơ quan chức năng để xử lý kịp thời. Thảo My – Phòng QLXLVPHC & TDTHPL
10:49 17/03/2026
151
Lâm Đồng công bố danh sách người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp (đợt 1)
Việc Quốc hội ban hành Luật Tư pháp người chưa thành niên đã tạo bước chuyển quan trọng trong cách tiếp cận đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, từ xử lý mang tính trừng phạt sang giáo dục, hỗ trợ và phục hồi. Một trong những điểm mới đáng chú ý của luật là quy định rõ vai trò của người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho học sinh – góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho người chưa thành niên Ngày 16 tháng 3 năm 2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số 842/QĐ-UBND về việc công bố Danh sách người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh (đợt 1). Quyết định này góp phần kiện toàn lực lượng tham gia hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên. Theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên, người làm công tác xã hội có thể tham gia hỗ trợ ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng. Trong quá trình làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng, lực lượng này có nhiệm vụ hỗ trợ tâm lý, giúp người chưa thành niên hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời góp phần tạo môi trường làm việc thân thiện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Bên cạnh đó, người làm công tác xã hội còn thực hiện đánh giá hoàn cảnh cá nhân và môi trường sống của người chưa thành niên, bao gồm điều kiện gia đình, học tập, các mối quan hệ xã hội và yếu tố tâm lý. Kết quả đánh giá sẽ được cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng để xem xét, lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp, ưu tiên các biện pháp giáo dục, hòa giải hoặc phục hồi tại cộng đồng. Việc ban hành quyết định trên được xem là bước cụ thể hóa các quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên, đồng thời tạo cơ sở để tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội trong công tác hỗ trợ người chưa thành niên. Tăng cường sự tham gia của đội ngũ người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp, hệ thống tư pháp sẽ có thêm nguồn lực chuyên môn để đánh giá, hỗ trợ và định hướng phục hồi cho người chưa thành niên, qua đó góp phần phòng ngừa tái phạm và giúp các em tái hòa nhập cộng đồng một cách bền vững. Kim Tân – TTTGPL
09:10 17/03/2026
197
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 35
  • Hôm nay: 1140
  • Trong tuần: 9975
  • Trong tháng: 32439
  • Tổng truy cập: 75511