Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tích cực, chủ động trong giải quyết thủ tục hành chính về quốc tịch cho người dân

14:58 27/03/2026

Kể từ khi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2025 (Luật số 79/2025/QH15) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, nhiều quy định mới được sửa đổi, bổ sung, thay thế theo hướng quy định thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc xác lập, thay đổi và xác nhận quốc tịch đã đi vào cuộc sống. Những chính sách mới không chỉ thể hiện tính nhân văn mà còn góp phần tháo gỡ các vướng mắc tồn tại trong thực tiễn nhiều năm qua. Ghi nhận tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng, số lượng người dân đến liên hệ thực hiện thủ tục hành chính về quốc tịch tăng đáng kể so với trước đây. Trong đó, phổ biến nhất là thủ tục xin cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam – một loại giấy tờ quan trọng để thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của công dân. Tuy nhiên, thực tế phát sinh cho thấy không ít trường hợp người dân còn nhầm lẫn, dẫn đến việc nộp hồ sơ không đúng nơi có thẩm quyền, trong đó có việc gửi hồ sơ về Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng dù không cư trú tại địa phương. Điều này không chỉ làm kéo dài thời gian nộp hồ sơ của người dân mà còn gây phát sinh việc xử lý hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Người dân đến liên hệ thực hiện thủ tục hành chính về quốc tịch tại Bộ phận một cửa Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng Liên quan đến việc nộp hồ sơ, pháp luật quốc tịch cũng đã có những quy định cụ thể về cách thức và địa điểm nộp hồ sơ theo đúng thẩm quyền như sau: Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định: “1. Người xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam hoặc giải quyết các việc khác về quốc tịch có thể nộp hồ sơ trực tuyến, trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính đến cơ quan có thẩm quyền thụ lý hồ sơ theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam và Nghị định này, không ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ… Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải trực tiếp nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện, nơi người đó cư trú,…” Khoản 1 Điều 25, Điều 29 Luật Quốc tịch 2025 quy định: “1. Người xin trở lại/thôi quốc tịch Việt Nam nếu cư trú ở trong nước thì nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú, nếu cư trú ở nước ngoài thì nộp hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại…” Điều 29, Điều 31 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP quy định về thẩm quyền cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam/Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam: “Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện, nơi người yêu cầu cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam/Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam cư trú vào thời điểm nộp hồ sơ có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam.” Từ các quy định của pháp luật nêu trên, người có yêu cầu nộp hồ sơ xin cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam, xin gia nhập quốc tịch Việt Nam… không được ủy quyền cho người khác thực hiện. Đồng thời, việc nộp hồ sơ phải đúng thẩm quyền theo nơi cư trú, cụ thể là cư trú tại tỉnh, thành phố nào thì nộp tại Sở Tư pháp của địa phương đó hoặc nếu cư trú tại nước ngoài thì nộp hồ sơ tại cơ quan đại diện ở nước ngoài,… Để đảm bảo việc tiếp nhận hồ sơ đúng quy định, đúng thẩm quyền, khi nộp hồ sơ, người dân cần xuất trình Phiếu xác nhận thông tin về cư trú hoặc giấy tờ hợp lệ chứng minh nơi cư trú hiện tại. Đây là căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật. Trong bối cảnh số lượng hồ sơ xin cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam, xin gia nhập quốc tịch Việt Nam…gia tăng kể từ khi Luật mới có hiệu lực, đồng thời gắn với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã và đang chủ động, tích cực triển khai nhiều giải pháp cũng như đẩy mạnh việc phối hợp xác minh nhân thân của người yêu cầu để việc cấp giấy xác nhận quốc tịch hay bất cứ thủ tục khác có liên quan đến quốc tịch cho người dân kịp thời, đúng quy định pháp luật. Thời gian tới, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ, tăng cường hướng dẫn, tuyên truyền để người dân hiểu đúng, thực hiện đúng quy định pháp luật về quốc tịch, qua đó góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiệu quả. Thúy Hà, Phòng HCTP

Góp ý hồ sơ chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong xử lý tài sản công, thời gian qua, nhiều văn kiện của Đảng, Nhà nước đã xác định chủ trương, định hướng về hoàn thiện thể chế, đổi mới, nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung, trong đó có hoạt động đấu giá tài sản, phục vụ hiệu quả cho việc phát triển kinh tế - xã hội; Bộ Tư pháp đã xây dựng hồ sơ chính sách dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) và gửi các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu, tham gia ý kiến nhằm đảm bảo tiến độ xây dựng văn bản. Ngày 20/3/2026, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đã tham gia góp ý hồ sơ chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), theo đó những ý kiến, kiến nghị của Sở Tư pháp tập trung vào việc tháo gỡ một số bất cập đang trực tiếp gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước tại địa phương, với các nội dung cụ thể như sau: 1. Kiến nghị làm rõ cơ chế vận hành đối với Sàn đấu giá tài sản công Liên quan đến quy định về “Sàn đấu giá tài sản công do Bộ Công an xây dựng”, Sở Tư pháp đề nghị Bộ Tư pháp cần bổ sung đánh giá cụ thể về sự cần thiết, cơ sở pháp lý và tác động của việc hình thành sàn này. Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế chia sẻ thông tin giữa hệ thống này với Cổng Đấu giá tài sản quốc gia và xác định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước của địa phương đối với các giao dịch diễn ra trên sàn. 2.Chấm dứt tình trạng mua bảo hiểm nghề nghiệp “tùy nghi” Từ thực tế quản lý, Sở Tư pháp nhận định quy định hiện hành về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên còn chung chung, dẫn đến việc các tổ chức hành nghề thực hiện mang tính đối phó. Nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đấu giá viên, Sở kiến nghị cần bổ sung nguyên tắc về mức bảo hiểm tối thiểu ngay trong Luật hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết về mức phí và số tiền bảo hiểm tối thiểu phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp. 3. Đề xuất áp dụng Quy chế cuộc đấu giá theo mẫu thống nhất Một trong những bất cập lớn hiện nay là tình trạng các tổ chức hành nghề tự ban hành quy chế với những điều kiện làm hạn chế người tham gia, như: thời gian xem tài sản quá ngắn, địa điểm nộp hồ sơ khó tiếp cận, hoặc tự ý đặt ra các tiêu chí đánh giá năng lực trái quy định. Để khắc phục, Sở kiến nghị Bộ Tư pháp ban hành Quy chế cuộc đấu giá theo mẫu bắt buộc áp dụng thống nhất. Các tổ chức hành nghề chỉ được bổ sung các chi tiết đặc thù nhưng không được trái với quy chế khung này. 4. Liên quan đến việc tự ý “đặt thêm” điều kiện tham gia đấu giá Mặc dù Luật Đấu giá tài sản hiện hành đã có quy định về điều kiện tham gia đấu giá, nhưng thực tế vẫn ghi nhận tình trạng tổ chức đấu giá yêu cầu thêm các loại giấy tờ làm sai lệch bản chất hoạt động đấu giá. Sở Tư pháp kiến nghị sửa đổi Luật theo hướng: Tổ chức hành nghề chỉ được yêu cầu các giấy tờ khi pháp luật chuyên ngành (như Luật Đất đai, Luật Địa chất và Khoáng sản...) có quy định cụ thể. Trường hợp pháp luật chuyên ngành không quy định, tổ chức đấu giá tuyệt đối không được tự ý đặt thêm các loại giấy tờ “xác nhận” khác làm khó người dân. 5. Đảm bảo hệ thống pháp luật thông suốt qua điều khoản chuyển tiếp Để tránh khoảng trống pháp lý hoặc xung đột giữa luật cũ và luật sửa đổi, Sở Tư pháp đề nghị xây dựng các điều khoản chuyển tiếp đủ chi tiết. Đặc biệt cần chú trọng xử lý các cuộc đấu giá đang diễn ra hoặc trường hợp đã trúng đấu giá nhưng chưa hoàn tất nghĩa vụ tài chính tại thời điểm luật mới có hiệu lực. Những ý kiến đóng góp của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng xuất phát từ thực tiễn quản lý tại địa phương với mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng hoạt động đấu giá, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng tiêu cực, gây thất thoát tài sản. Với những thay đổi về cơ chế, chính sách trong việc xây dựng dự thảo Luật Đấu giá tài sản, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng kỳ vọng luật mới (sửa đổi) sẽ tháo gỡ được những bất cập hiện nay trong triển khai thực hiện công tác đấu giá tài sản công tại địa phương./. Mỹ Oanh - Phòng Bổ trợ tư pháp
16:21 23/03/2026
99
Những điểm mới trong Nghị định 58/2026/NĐ-CP: cắt giảm tối đa thủ tục cho người dân
Từ ngày 15/3/2026, Nghị định 58/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực thi hành, trong đó sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc thực hiện Luật Căn cước. Với những sửa đổi mang tính đột phá, Nghị định không chỉ cắt giảm các loại giấy tờ rườm rà mà còn tối ưu hóa quyền lợi cho người dân trên môi trường số. Mở rộng trách nhiệm của công an xã Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 58/2026/NĐ-CP là mở rộng trách nhiệm của công an cấp xã trong thu thập, cập nhật và khai thác dữ liệu dân cư, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới khi không còn công an cấp huyện. Theo đó, công an cấp xã nơi công dân cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật thông tin công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ nhiều nguồn như giải quyết thủ tục cư trú, sổ sách quản lý cư trú, hồ sơ tàng thư và từ việc cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước. Nghị định 58/2026/NĐ-CP làm rõ cơ chế điều chỉnh thông tin trong cơ sở dữ liệu khi công dân phát hiện thông tin do mình cung cấp có sai sót hoặc thay đổi. Khi đó, công dân đề nghị công an cấp xã thực hiện điều chỉnh theo trình tự, thủ tục quy định. Nghị định cũng mở rộng phạm vi xác lập số định danh cá nhân ngay từ khâu đăng ký khai sinh, bao gồm cả trường hợp ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy vẫn được tích hợp trong ứng dụng VneID Nghị định 58/2026/NĐ-CP nêu rõ thông tin số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy được mã hóa, tích hợp trong mã QR trên thẻ căn cước, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID). Cơ quan, tổ chức, cá nhân quét mã QR trên thẻ căn cước, khai thác thông tin trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và sử dụng thông tin số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy truy xuất được qua mã QR, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác; không được yêu cầu công dân phải cung cấp xác nhận số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã hủy. Trình tự, thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước Theo quy định được sửa đổi, đối với trường hợp người dưới 6 tuổi đề nghị cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ Căn cước; công dân đề nghị cấp lại do mất thẻ, thẻ hư hỏng không sử dụng được hoặc cấp đổi do thay đổi địa giới hành chính thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VneID. Kết quả tích hợp được thông báo khi trả thẻ Căn cước cho công dân. Công dân hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện thanh toán lệ phí tích hợp, cập nhật, điều chỉnh thông tin trên thẻ và phí dịch vụ chuyển phát theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Việc ban hành Nghị định số 58/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực căn cước, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự. Đinh Trúc - PBGDPL
16:22 21/03/2026
535
Những điểm mới của luật an ninh mạng năm 2025
Trong thời đại chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, không gian mạng trở thành môi trường quan trọng gắn liền với mọi hoạt động của đời sống xã hội các nguy cơ về tội phạm mạng, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân và các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng tinh vi và phức tạp. Để đáp ứng tình hình hiện nay, Quốc hội đã ban hành Luật An ninh mạng năm 2025, thay thế và bổ sung nhiều nội dung so với Luật năm 2018. Luật mới không chỉ quy định cơ chế chính sách nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng mà còn tạo hành lang pháp lý rõ ràng, giúp tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia môi trường mạng an toàn, hiệu quả hơn. Luật An ninh mạng năm 2025 gồm 08 chương, 45 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. So với Luật cũ, Luật mới đã có sự sửa đổi, bổ sung toàn diện trên nhiều phương diện, từ nguyên tắc quản lý, phạm vi điều chỉnh đến trách nhiệm của các chủ thể tham gia không gian mạng. Một trong những điểm mới mang tính nền tảng của Luật là việc hoàn thiện và thống nhất hệ thống pháp luật liên quan đến an ninh mạng. Trước đây, các quy định về an ninh mạng và an toàn thông tin có nhiều văn bản khác nhau dẫn đến sự chồng chéo, thiếu đồng bộ trong quá trình triển khai thực hiện. Đến nay, Luật An ninh mạng năm 2025 đã tiến hành rà soát, kế thừa và tích hợp các quy định có liên quan, từ đó xây dựng một khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, rõ ràng hơn. Cùng tìm hiểu các điểm mới của Luật An ninh mạng năm 2025: Thứ nhất, Luật An ninh mạng năm 2025 đã mở rộng phạm vi bảo vệ, đặc biệt chú trọng đến các nhóm yếu thế trong xã hội như trẻ em, người cao tuổi, người hạn chế về nhận thức. Trong bối cảnh các hành vi lừa đảo, xâm hại trên không gian mạng ngày càng gia tăng và nhắm vào các đối tượng hạn chế về nhận thức, việc bổ sung quy định này có ý nghĩa rất thiết thực. Đồng thời, Luật còn quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức, trang bị kỹ năng sử dụng internet an toàn, cũng như xây dựng môi trường mạng lành mạnh, thân thiện đối với các nhóm đối tượng này. Thứ hai, Luật An ninh mạng năm 2025 đã bổ sung các quy định nhằm kiểm soát những rủi ro phát sinh từ sự phát triển của công nghệ mới. Theo đó, Luật nghiêm cấm các hành vi lợi dụng công nghệ để giả mạo hình ảnh, âm thanh, video nhằm mục đích lừa đảo, xuyên tạc, xâm phạm danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân. So với Luật năm 2018, đây là nội dung hoàn toàn mới, thể hiện sự chủ động của Nhà nước trong việc nhận diện và ứng phó với các nguy cơ an ninh phi truyền thống trên không gian mạng. Thứ ba, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về bảo vệ dữ liệu cá nhân một vấn đề hiện đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng có trách nhiệm xây dựng hệ thống bảo mật thông tin, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ dữ liệu người dùng, phải kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các sự cố rò rỉ, mất an toàn thông tin. So với Luật cũ, trách nhiệm này được quy định rõ ràng hơn, có tính ràng buộc cao hơn, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người sử dụng. Kỳ họp Quốc hội biểu quyết thông qua Luật An ninh mạng. Thứ tư, một nội dung mới nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng quốc gia. Nhà nước khuyến khích và ưu tiên phát triển các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ an ninh mạng trong nước; đầu tư xây dựng hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, hệ thống giám sát và cảnh báo an ninh mạng. Bên cạnh đó, Luật còn chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực an ninh mạng. Đây là giải pháp lâu dài nhằm giảm sự phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền số quốc gia. Thứ năm, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng đã bổ sung các quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh mạng, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm mạn. Việc tăng cường hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Thứ sáu, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng mở rộng và cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm. Không chỉ dừng lại ở các hành vi đơn giản như tấn công hệ thống thông tin, phát tán mã độc, luật mới còn bao quát các hành vi mới phát sinh như phát tán thông tin giả, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân, lợi dụng mạng xã hội để gây mất trật tự xã hội. Việc quy định rõ ràng, cụ thể các hành vi này giúp cơ quan chức năng có cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý nghiêm các vi phạm. Thứ bảy, Luật An ninh mạng năm 2025 cũng làm rõ hơn trách nhiệm của từng chủ thể tham gia không gian mạng, bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. Mỗi chủ thể đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, chủ động phòng ngừa rủi ro, phối hợp với cơ quan chức năng trong việc bảo đảm an ninh mạng. Đối với cá nhân, việc sử dụng internet cần gắn với ý thức trách nhiệm, không đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật, không thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Việc triển khai đồng bộ và hiệu quả Luật An ninh mạng năm 2025 không chỉ hoàn thiện thể chế, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, mà còn góp phần xây dựng một môi trường mạng an toàn, lành mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số bền vững. Mỗi tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân cần nâng cao nhận thức, chấp hành nghiêm pháp luật, chung tay xây dựng không gian mạng an toàn, văn minh, góp phần bảo vệ phát triển đất nước trong thời đại công nghệ số Võ Luân – Phòng PBGDPL
16:58 19/03/2026
793
Các hành vi gây cháy rừng có thể bị phạt đến 100 triệu đồng
Rừng là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia, có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước và phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều vụ cháy rừng xuất phát từ những hành vi tưởng chừng rất nhỏ như đốt rác, đốt thực bì, đốt nương rẫy bất cẩn, đặc biệt vào mùa khô. Chỉ một chút bất cẩn cũng có thể khiến lửa lan nhanh, gây thiệt hại lớn cho rừng và môi trường. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể để xử lý nghiêm các hành vi này. Theo quy định tại Điều 17 Nghị định 35/2019/NĐ-CP của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 07/2022/NĐ-CP) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, hành vi vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng gây cháy rừng sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ thiệt hại, cụ thể như sau: Trong thực tế, đôi khi vì chủ quan chỉ một hành vi tưởng như đơn giản như đốt rác gần rừng nhưng nếu không kiểm soát tốt, gây cháy rừng thì hậu quả không chỉ là thiệt hại tài nguyên thiên nhiên mà người vi phạm còn phải đối mặt với mức phạt hành chính lên đến 100 triệu đồng. Bên cạnh đó, trong trường hợp hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại theo quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 115 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt tù với mức cao nhất đến 12 năm theo quy định của pháp luật. Để chung tay bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi xanh của chúng ta và tránh những hậu quả đáng tiếc, mỗi người dân chúng ta cần nâng cao ý thức khi sinh sống, sản xuất gần rừng; không đốt rác, đốt nương rẫy bừa bãi trong mùa khô; tuân thủ nghiêm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng. Khi phát hiện nguy cơ cháy rừng hoặc cháy rừng xảy ra, cần kịp thời báo cho chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm hoặc cơ quan chức năng để xử lý kịp thời. Thảo My – Phòng QLXLVPHC & TDTHPL
10:49 17/03/2026
151
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIÊN CHỨC NĂM 2025
Trong thời gian qua, đội ngũ viên chức của các đơn vị sự nghiệp công lập đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước học tập rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm và nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Phần lớn viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có tinh thần trách nhiệm trong công việc, tận tụy phục vụ Nhân dân. Viên chức Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Lâm Đồng Với mục tiêu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý đội ngũ viên chức, đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trong giai đoạn hiện nay. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Viên chức năm 2025, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về quản lý đội ngũ viên chức. Việc ban hành Luật nhằm tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay. So với Luật Viên chức năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Viên chức năm 2025 có nhiều điểm mới đáng chú ý, trong đó nổi bật là việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Theo quy định mới, vị trí việc làm được xác định là căn cứ quan trọng để thực hiện tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo và thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức. Việc quản lý theo vị trí việc làm góp phần bảo đảm sử dụng đúng người, đúng việc, phát huy năng lực của từng cá nhân, nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Luật cũng có những đổi mới trong công tác đánh giá viên chức. Việc đánh giá được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí như phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, kết quả thực hiện nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân. Bên cạnh đó, Luật bổ sung việc xem xét các yếu tố như năng lực đổi mới, sáng tạo, khả năng thích ứng với yêu cầu công việc. Kết quả đánh giá viên chức là căn cứ quan trọng để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng hoặc xem xét xử lý trách nhiệm đối với viên chức. Một điểm mới đáng chú ý của Luật Viên chức năm 2025 là tăng cường trách nhiệm cá nhân của viên chức trong thực thi nhiệm vụ. Theo đó, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm có thể xem xét bố trí vào vị trí công tác khác phù hợp hoặc giải quyết thôi việc theo quy định. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng bình quân trong đánh giá, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của viên chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Luật cũng bổ sung quy định về nguồn thu nhập của viên chức. Ngoài tiền lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập, viên chức có thể được hưởng các khoản thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật và cơ chế tự chủ của đơn vị. Quy định này góp phần tạo động lực làm việc, khuyến khích viên chức nâng cao năng lực chuyên môn, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công. Bên cạnh đó, Luật Viên chức năm 2025 siết chặt các quy định liên quan đến xử lý kỷ luật viên chức nhằm bảo đảm việc xử lý vi phạm được thực hiện nghiêm minh, đúng quy định. Đồng thời, Luật cũng bổ sung quy định về quản lý hồ sơ viên chức bằng hồ sơ điện tử, được cập nhật trên hệ thống thông tin quản lý viên chức và kết nối với các cơ sở dữ liệu có liên quan. Đây là bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác quản lý cán bộ, viên chức. Luật Viên chức năm 2025 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Việc triển khai thực hiện hiệu quả các quy định của Luật sẽ góp phần xây dựng đội ngũ viên chức có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Nguyễn Bích Quyên – Văn phòng Sở
10:11 16/03/2026
156
Chính phủ quy định biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản
Ngày 28/02/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Luật Phục hồi, phá sản liên quan đến việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp và hợp tác xã. Theo đó, Nghị định quy định cụ thể các nội dung về thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản; việc định giá, bán tài sản; áp dụng biện pháp cưỡng chế; cũng như cơ chế giám sát hoạt động của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản nhằm bảo đảm quá trình thi hành quyết định phá sản được thực hiện minh bạch, đúng pháp luật. Quy định rõ thẩm quyền và quy trình thi hành quyết định phá sản Theo quy định mới, việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản được thực hiện theo các quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Trường hợp luật không quy định thì áp dụng theo pháp luật về thi hành án dân sự. Nghị định nêu rõ, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành và phân công Chấp hành viên phụ trách vụ việc. Sau khi được phân công, chấp hành viên có trách nhiệm gửi văn bản yêu cầu quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức thi hành quyết định phá sản; Mở tài khoản tại ngân hàng đứng tên cơ quan thi hành án dân sự để tiếp nhận các khoản tiền thu hồi được từ doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; Giám sát quá trình thi hành quyết định phá sản. Trường hợp cần thiết, áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Văn bản yêu cầu tổ chức thi hành quyết định phá sản phải được gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát và các chủ thể tham gia thủ tục phá sản để phối hợp thực hiện. Xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm của quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình tổ chức thi hành quyết định phá sản. Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản; của người mắc nợ, người có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản của người khác có liên quan. Những người có nghĩa vụ liên quan phải kê khai trung thực và cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập và điều kiện thi hành quyết định phá sản, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai. Quy định cụ thể việc quản lý và chuyển tiền thi hành Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận quyết định thi hành, Chấp hành viên có trách nhiệm đề nghị Tòa án chuyển số tiền còn lại đang quản lý vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự để tiếp tục xử lý theo quy định. Sau khi nhận được đề nghị, Tòa án phải chuyển tiền trong thời hạn 07 ngày. Các khoản tiền từ việc bán tài sản, thanh toán nghĩa vụ hoặc từ các tổ chức, cá nhân liên quan phải được chuyển vào tài khoản do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định. Ủy thác thi hành quyết định tuyên bố phá sản Nghị định cho phép cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ủy thác thi hành hoặc ủy thác xử lý tài sản trong trường hợp cần thiết, đặc biệt khi tài sản của doanh nghiệp phá sản nằm tại địa phương khác. Trong trường hợp ủy thác toàn bộ việc thi hành quyết định phá sản cho một cơ quan thi hành án dân sự khác, cơ quan nhận ủy thác sẽ mở tài khoản riêng để quản lý các khoản tiền thu hồi được và thực hiện việc thanh toán theo quy định. Thủ tục trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản Đối với tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đang thuê hoặc mượn, chủ sở hữu có quyền gửi văn bản đề nghị trả lại tài sản kèm theo các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Chấp hành viên sẽ chuyển cho quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để xử lý. Trong thời hạn 07 ngày, việc trả lại tài sản phải được thực hiện và báo cáo kết quả cho cơ quan thi hành án dân sự. Thanh toán tiền và thu phí thi hành quyết định tuyên bố phá sản Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được tiền hoặc giao tài sản, Chấp hành viên thực hiện việc thanh toán cho các chủ thể theo quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án. Các chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành được xác định là chi phí phá sản và được thanh toán theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp khoản tiền hoặc tài sản được thu hồi từ việc bán tài sản của doanh nghiệp phá sản mà không phải áp dụng biện pháp cưỡng chế, cơ quan thi hành án dân sự không thu phí thi hành án. Nghị định 64/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế pháp lý về xử lý phá sản tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh doanh và xử lý các trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Đinh Trúc - PBGDPL
10:51 10/03/2026
171
CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI GIAI ĐOẠN 2026 – 2030 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2035 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH Lâm Đồng (KẾ HOẠCH 2655/KH-UBND NGÀY 03/7/2026)
05:18 07/03/2026
102
Lâm Đồng triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030
Để tăng cường công tác quản lý, bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho trẻ em và thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật liên quan, theo đúng tinh thần Quyết định số 2696/QĐ-TTg ngày 11/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 188/QĐ-BTP ngày 19/01/2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 – 2030. Ngày 02/3/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 2591/KH-UBND về triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Kế hoạch được ban hành nhằm mục đích: Tổ chức hiệu quả việc triển khai các khuyến nghị trong Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế trên địa bàn tỉnh; Bảo đảm công tác giải quyết nuôi con nuôi quốc tế được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; ngăn ngừa, xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế; Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai Bộ Công cụ; Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các sở, ngành và địa phương trong việc triển khai thực hiện Bộ Công cụ. Đồng thời, để việc triển khai kế hoạch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được thực hiện bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả, kế hoạch đã phân công các nhiệm vụ cụ thể đối với từng cơ quan, đơn vị, địa phương, như sau: Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Sở Ngoại vụ, Sở Y tế, Sở Dân tộc và Tôn giáo, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính; Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu và các cơ quan, tổ chức có liên quan để thực hiện: Tổ chức hội nghị triển khai Quyết định ban hành Kế hoạch và truyền thông về Bộ Công cụ; Truyền thông, phổ biến, nâng cao nhận thức, trách nhiệm các cấp, các ngành, cộng đồng về công tác nuôi con nuôi theo Công ước La Hay 193 và pháp luật về nuôi con nuôi; Rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, đề án và tổ chức thực hiện văn bản, đề án liên quan đến công tác nuôi con nuôi; Xây dựng, triển khai dịch vụ tư vấn, hỗ trợ trước, trong và sau quá trình giải quyết nuôi con nuôi cho cha, mẹ nuôi, con nuôi và các chủ thể có liên quan; Tăng cường, đổi mới quy chế phối hợp liên ngành trong công tác giải quyết nuôi con nuôi; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực trẻ em, nuôi con nuôi quốc tế; Tổ chức hội nghị tổng kết triển khai Kế hoạch. Hình ảnh Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng tổ chức buổi lễ giao nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài bảo đảm đúng quy định của pháp luật về nuôi con nuôi. Sở Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan để thực hiện: Truyền thông, phổ biến, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, cộng đồng trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, bảo đảm cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình lâu dài, bền vững; Phối hợp rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, đề án và tổ chức thực hiện văn bản, đề án về chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ trẻ em tái đoàn tụ gia đình; Phối hợp xây dựng, vận hành Cơ sở dữ liệu trẻ em, đẩy mạnh việc cập nhật, khai thác, sử dụng, kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các Cơ sở dữ liệu chuyên ngành khá. Sở Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan để thực hiện truyền thông, phổ biến, vận động các tổ chức, cá nhân tôn giáo đang nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thực hiện việc chuyển đổi hình thức chăm sóc thay thế nhằm tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình. Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan thực hiện: Phối hợp rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, đề án và tổ chức thực hiện văn bản, đề án liên quan đến phòng, chống mua bán trẻ em; Tăng cường công tác phòng, chống mua bán người trong việc tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, giải quyết nuôi con nuôi. Việc triển khai kế hoạch này không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của trẻ em và gia đình liên quan đến nuôi con nuôi quốc tế mà còn thể hiện cam kết của tỉnh Lâm Đồng trong việc tuân thủ các chuẩn mực pháp luật quốc tế và nâng cao trách nhiệm quản lý xã hội nói chung. Thúy Hà, Phòng HCTP
11:28 05/03/2026
107
Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 sửa đổi hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả phòng, chống ma túy
Ngày 10/12/2025, Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XV đã thông qua Luật Phòng, chống ma tuý (sửa đổi). Luật gồm 8 chương, 56 điều, trong đó, bổ sung mới 11 điều; sửa đổi, bổ sung 38 điều; bãi bỏ 10 điều; giữ nguyên 7 điều; có hiệu lực thi hành từ 01/7/2026. Luật Phòng, chống ma túy 2025 được sửa đổi trong bối cảnh Đảng và Nhà nước triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, đồng thời chuyển giao chức năng quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sang Bộ Công an. Luật đã bổ sung nhiều quy định đáng chú ý liên quan đến việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó tập trung vào các điểm mới sau: 1. Nghĩa vụ khai báo của người sử dụng trái phép chất ma túy theo Luật Phòng, chống ma túy 2025 Theo quy định mới, người sử dụng trái phép chất ma túy phải có mặt theo giấy triệu tập hoặc yêu cầu của công an xã. Đồng thời, phải có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về chất ma túy đã dùng, tần suất sử dụng và hành vi liên quan. Khi di chuyển nơi cư trú, người sử dụng ma túy phải thông báo cho công an nơi đi và trình diện nơi đến mới trong vòng 24 giờ. Công an xã có trách nhiệm cập nhật danh sách quản lý, đồng thời chuyển thông tin cho địa phương tiếp nhận trong cùng thời hạn để tiếp tục giám sát. 2. Áp dụng biện pháp giám sát điện tử Đây là một bước tiến mới trong việc ứng dụng công nghệ vào quản lý. Luật cho phép áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng hoặc điều trị bằng thuốc thay thế, và cả trường hợp quản lý sau cai nghiện. Người đang bị giám sát phải đeo thiết bị chuyên dụng, không được tháo gỡ, phá hủy hay can thiệp kỹ thuật làm gián đoạn hoạt động của thiết bị. Nếu thiết bị hư hỏng, người được giám sát phải báo ngay cho công an xã biết để xử lý. Chính phủ sẽ quy định chi tiết về đối tượng, điều kiện, thời hạn, trình tự, thủ tục áp dụng và xử lý vi phạm. Việc quản lý bằng công nghệ được kỳ vọng giúp cơ quan chức năng giảm tải việc giám sát thủ công, nắm bắt di biến động kịp thời, hạn chế nguy cơ tái nghiện và các hành vi vi phạm pháp luật liên quan. 3. Quản lý chặt chẽ người sử dụng trái phép chất ma túy Luật làm rõ việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy là biện pháp phòng ngừa, giúp đỡ, không phải là biện pháp xử lý hành chính. Thời hạn quản lý là 01 năm kể từ ngày ra quyết định quản lý. Trong thời gian này, người sử dụng phải chịu sự quản lý, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã và có thể bị yêu cầu xét nghiệm ma túy. 4. Quy định đặc thù đối với trẻ em (từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi) Tính nhân văn của Luật thể hiện rõ qua việc quy định việc đưa người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không bị coi là xử lý vi phạm hành chính. Quá trình lập hồ sơ, xét duyệt luôn yêu cầu có sự tham gia của cha, mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp để bảo vệ tối đa quyền lợi của trẻ em. 5. Chính thức luật hóa “Biện pháp can thiệp giảm tác hại” Luật bổ sung quy định về biện pháp can thiệp giảm tác hại đối với người sử dụng trái phép chất ma túy và người nghiện ma túy (ví dụ: điều trị nghiện bằng thuốc thay thế). Mục đích là làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân người sử dụng, gia đình và cộng đồng. 6. Quy trình cai nghiện và thời hạn cai nghiện trong Luật Phòng, chống ma túy 2025 Thời hạn cai nghiện được phân thành 24 tháng cho lần đầu và 36 tháng nếu tái nghiện. Quy trình cai nghiện được xây dựng gồm nhiều giai đoạn, nhằm đảm bảo người nghiện được điều trị toàn diện: Tiếp nhận, phân loại tình trạng sử dụng ma túy Điều trị cắt cơn, giải độc, ổn định tâm thần Tư vấn tâm lý, giáo dục kỹ năng, phục hồi hành vi Lao động trị liệu, đào tạo nghề, chuẩn bị tái hòa nhập xã hội Luật cho phép áp dụng hai hình thức cai nghiện: tự nguyện và bắt buộc. Hình thức tự nguyện phù hợp với người chủ động cai nghiện, trong khi cai nghiện bắt buộc áp dụng với người vi phạm nghĩa vụ, không hợp tác hoặc gây mất an ninh trật tự. 7. Lao động trị liệu trong cai nghiện ma túy Luật bổ sung quy định việc tổ chức lao động trị liệu cho người cai nghiện ma túy theo các hình thức do cơ quan có thẩm quyền quyết định và việc sử dụng kết quả lao động trị liệu của người cai nghiện ma túy để phục vụ cho người nghiện ma túy. Nội dung này giao Chính phủ quy định chi tiết. Luật Phòng, chống ma túy 2025 được sửa đổi toàn diện thể hiện quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước ta trong công tác quản lý tiền chất, thuốc gây nghiện, đồng thời đề cao tính nhân văn, hướng tới việc giúp đỡ người sử dụng ma túy từ bỏ con đường sai lầm. Để Luật đi vào cuộc sống, mỗi gia đình và toàn xã hội cần chung tay nâng cao ý thức, phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng, quyết tâm xây dựng một cộng đồng an toàn, không ma túy. Đinh Trúc - PBGDPL
11:23 05/03/2026
547
Quy định mới trong tháo gỡ “điểm nghẽn” thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Việc xử lý đối với những trường hợp cá nhân, tổ chức không có tài sản, thu nhập để cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính luôn là một bài toán khó. Trước đây tại Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ Quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, chưa có quy định chi tiết về cách thức "khép hồ sơ" đối với các trường hợp này, dẫn đến tình trạng hồ sơ tồn đọng kéo dài. Để tháo gỡ "điểm nghẽn" thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 296/2025/NĐ-CP ngày 16/11/2025 Quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đã mang lại một hành lang pháp lý minh bạch, quy định rõ ràng từ việc xác lập trạng thái "chưa có điều kiện thi hành" đến trình tự "chấm dứt cưỡng chế", giúp cơ quan hành chính quản lý hồ sơ một cách khoa học, hiệu quả và chặt chẽ. Quyết định chưa có điều kiện cưỡng chế – Bước đệm cần thiết: Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP quy định rõ, khi đã áp dụng các biện pháp xác minh cho thấy các đối tượng vi phạm hành chính thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 47, cụ thể như sau: + Người phải thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người đó, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để cưỡng chế thi hành hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản không đủ hoặc chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế hoặc tài sản thuộc trường hợp không được kê biên; + Tổ chức, hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác, cộng đồng dân cư bị cưỡng chế không có tài sản để cưỡng chế thi hành hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản không đủ hoặc chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế hoặc tài sản thuộc trường hợp không được kê biên; Hội nghị tập huấn công tác xử lý VPHC + Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả khi đã thực hiện tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật. à Căn cứ một trong các trường hợp trên, cho thấy đối tượng không có thu nhập, không có tài sản hoặc giá trị tài sản quá thấp không đủ chi trả chi phí cưỡng chế thì người có thẩm quyền ra Quyết định cưỡng chế ban hành Quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. So với Nghị định số 166/2013/NĐ-CP của Chính phủ, đây là điểm mới được thể hiện bằng việc chuẩn hóa thành văn bản chính thức. Quyết định này là căn cứ để cơ quan lưu hồ sơ, tạm dừng các hoạt động cưỡng chế tốn kém nguồn lực, đồng thời xác lập trách nhiệm tiếp tục theo dõi biến động tài sản của đối tượng vi phạm. Quy định mới về ban hành Quyết định chấm dứt cưỡng chế: Đây là nội dung mới đặc biệt quan trọng để "khép hồ sơ" cưỡng chế một cách đảm bảo theo quy định của pháp luật. Nghị định số 296/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định trình tự chấm dứt cưỡng chế như sau: à Sau khi có quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều 47, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế phải tiến hành thực hiện các bước được quy định tại khoản 2 Điều 47, cụ thể: + Sau thời hạn 06 tháng, kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thì trong thời gian 15 ngày, người có thẩm quyền tiến hành xác minh lần thứ nhất. + Sau thời hạn 06 tháng, kể từ ngày thực hiện xác minh lần thứ nhất, thì trong thời gian 15 ngày, người có thẩm quyền tiến hành xác minh lần thứ hai. à Nếu đã thực hiện xong tất cả các bước trên mà xác định vẫn chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thức xác minh lần hai, người có thẩm quyền ban hành quyết định chấm dứt việc cưỡng chế. à Gửi và thông báo: Quyết định chấm dứt phải được gửi cho đối tượng vi phạm, các cơ quan phối hợp và tổ chức tín dụng liên quan để giải tỏa các biện pháp ngăn chặn (như phong tỏa tài khoản) đã áp dụng trước đó. Hiện nay, tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP của Chính phủ, vẫn chưa có quy định về các biểu mẫu quyết định về việc chưa có điều kiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định chấm dứt việc cưỡng chế. Do đó, trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục rà soát ban hành thêm các biểu mẫu để phù hợp với quy định của Nghị định số 296/2025/NĐ-CP. Việc bổ sung trình tự chấm dứt cưỡng chế tại Điều 47 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP của Chính phủ là một bước tiến lớn so với Nghị định số 166/2013/NĐ-CP, giúp khép lại các hồ sơ không còn khả năng thi hành được đảm bảo theo quy định của pháp luật, minh bạch trách nhiệm, xác định rõ thời điểm kết thúc trách nhiệm của cơ quan cưỡng chế, tránh việc thiếu sâu sát đối với các vụ việc kéo dài. Quy định tại Điều 47 Nghị định 296/2025/NĐ-CP đã tạo ra một quy trình khép kín: từ xác minh, tạm dừng (chưa có điều kiện) đến kết thúc (chấm dứt cưỡng chế). Sự thay đổi này không chỉ giúp khắc phục những hạn chế của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP mà còn đảm bảo tính nhân văn, thực tế của pháp luật. Giúp các cơ quan quản lý nhà nước nâng cao hiệu quả công việc, đảm bảo mọi hồ sơ cưỡng chế đều có "điểm khởi đầu" và "điểm kết thúc" rõ ràng, đảm bảo đúng quy định pháp luật. Nghị định số 296/2025/NĐ-CP ngày 16/11/2025 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026 và thay thế Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ. Bảo Quốc – Phòng Quản lý XLVPHC và Theo dõi THPL
15:48 04/03/2026
163
Trang
1234
Liên kết
Thống kê truy cập
  • Đang online: 38
  • Hôm nay: 1143
  • Trong tuần: 9978
  • Trong tháng: 32442
  • Tổng truy cập: 75514